[Johnson Banks] Arkitypo – Lịch sử Typeface qua bảng chữ cái 3D

Dự án ‘Arkitypo’ của công ty thiết kế Johnson Banks (Luân Đôn) bao gồm việc thực hiện một “bảng chữ cái của bảng chữ cái” dưới dạng thực thể: một bộ sưu tập hoàn chỉnh các con chữ dạng 3 chiều, mỗi chữ thể hiện đặc tính và lịch sử một phông chữ riêng biệt.



Dự án có sự cộng tác của Ravensbourne, trường đại học truyền thông kỹ thuật số trực thuộc Anh quốc. Công trình được phát triển dưới dạng một công cụ thử nghiệm và giới thiệu kỹ thuật dựng mô hình 3D nội bộ của nhà trường.


Với mỗi con chữ từ A đến Z, các nhà thiết kế chọn một phông chữ có tên gọi bắt đầu bằng ký tự đó, và biến nó thành tác phẩm tạo hình. Mỗi tác phẩm gói gọn một phần lịch sử của phông chữ đó: chữ J mang hình hài của một bản đồ hệ thống đường tàu điện ngầm, vì phông chữ Johnston vốn được thiết kế riêng cho hệ thống tàu điện ngầm Luân Đôn; chữ C thể hiện phông Courier, phông chữ được sử dụng trong các máy đánh chữ hồi thập niên 1950, vì thế nó được tạo thành từ một tập hợp các phím máy đánh chữ…


Dự án Arkitypo kéo dài sáu tháng. Johnson Banks trước hết nghiên cứu từng chữ cái, từ đó phát triển bản vẽ, mô hình, và các bản phối màu ba chiều đơn giản trước khi chuyển hình ảnh và ý tưởng sang cho nhóm thực hiện tại Ravensbourne. Ở đó, các nhà thiết kế sẽ hợp tác cùng Johnson Banks phát triển thêm các mô hình 3D, trước khi bắt tay vào in thử lần đầu tiên. Một số ý tưởng thành công tức thì, một số đòi hỏi trau chuốt lại để bảo đảm độ bền chắc.
Những chữ cái phức tạp nhất phải mất tám giờ thực hiện mới được đưa vào in ấn.

–-–-–-–-–-–-–-–-–––-–-–-–-–-–-–-–-–––-–-–-–-–-–-–-

THÔNG TIN DỰ ÁN:
* Thiết kế: Johnson Banks
* Khách hàng: Ravensbourne
* Dựng hình và tạo hình 3D: Jon Fidler
* Nhiếp ảnh: Andy morgan
* Khách hàng dự án: Jill Hogan
* Cố vấn dự án: Ben Caspersz

–-–-–-–-–-–-–-–-–––-–-–-–-–-–-–-–-–––-–-–-–-–-–-–-

(Nguồn: amedia.edu.vn/designboom.com)

Chữ A thể hiện font Akzidenz Grotesk (1896), một trong số các font Sans Serif đầu tiên được ứng dụng rộng rãi, thuộc họ font Sans Serif đầu tiên gọi là Grotesques.

 

Chữ B thể hiện phông Bodoni (1798), vốn được mô phỏng theo phông Baskerville nhưng có các nét dày dày hơn và nét mỏng mỏng hơn. Mô hình của Johnson Banks biểu thị lịch sử của phông Bododi với nguồn gốc phát xuất từ hình thái của phông Baskerville.

 

 Chữ C thể hiện phông Courier (1955), vốn được thực hiện dành riêng cho máy đánh chữ IBM của thập niên 1950.

 

 Chữ D thể hiện DIN 1451, phông chữ được chọn làm chuẩn cho các dự án kỹ thuật và dịch vụ công cộng của Đức vào năm 1936. Johnson Banks thiết kế hình mẫu dựa trên các phím đánh chữ, liên hệ đến những ngày xa xưa của thứ máy móc thủ công thường nghẽn hoạt động này.

Chữ E thể hiện Engravers (1899), phông chữ sử dụng trong chạm khắc kim loại.

 

Chữ F thể hiện phông chữ đen Fraktur, vốn được tạo hình mô phỏng theo phông chữ cổ Carolingian Minuscule và các mẫu chữ viết tay khác để làm phông chuẩn cho bộ sách của hoàng đế La Mã Maximilian I. Franktur chiếm vị trí độc tôn từ đó cho đến thế kỷ 20, khi nó bị chính quyền Quốc xã cấm sử dụng vào năm 1941. Ở đây thiết kế của Johnson Banks biểu thị mối liên hệ mật thiết giữa phông chữ và nghề đóng sách.

 

Chữ G thể hiện phông Gill Sans (1933). Câu nói của Eric Gill, tác giả của phông chữ nói trên, được trích dẫn như sau: “Một cặp mắt kính trông hơi giống chữ g, tôi sẽ thiết kế một chữ g hao hao một cặp kính”, làm tiền đề gợi ý cho mẫu thiết kế của Johnson Banks.

–-–-

Gill Sans – ‘Helvetica’ của Anh Quốc (xem thêm tại đây: Click)

Chữ H thể hiện phông Helvetica (nguyên thuỷ là phông Neue Haas Grotesk, 1957, được đổi tên lại vào năm 1960). Helvetica trong tiếng Latin có nghĩa là Thuỵ Sĩ, vì thế phông chữ có mối liên hệ với nền thiết kế Thuỵ Sĩ và công nghiệp hiện đại chủ nghĩa cũng như ngành thiết kế đồ hoạ nói chung.
Mô hình của Johnson Banks kết hợp logo của một số đoàn thể đang sử dụng Helvetica cho thương hiệu của mình.

Chữ I thể hiện phông Industria, phông chữ được Neville Brody thiết kế vào 1984 cho tạp chí The face.

Chữ J thể hiện phông Johnston (1916), phông chữ được thiết kế cho hệ thống đường tàu điện ngầm Luân Đôn.

  

Chữ K thể hiện phông Kabel (1927), phông chữ mang tên đường dây điện thoại xuyên Đại Tây Dương mới được xây dựng thời đó. Johnson Banks sử dụng hình dạng của đường dây nói trên tạo thành mẫu thiết kế.

  

 Chữ L thể hiện phông Lubalin Graph, một trong những bảng chữ cái Slab-Serif đầu tiên được thực hiện cho nền công nghiệp đúc mô hình.

Chữ M được xây dựng trên phông chữ Machine ITC, vẫn thường được liên hệ với nền công nghiệp, và có tác động sâu xa đến những bánh răng kỹ thuật cấu thành mẫu thiết kế ở đây.

  

Chữ N được tạo thành từ phông New Alphabet (1967), một phông chữ thể nghiệm tối giản cấu từ những nét thanh và góc chữ chính xác.

  

Chữ O được tạo thành từ phông OCR-A, phông chữ có những ký tự kỳ lạ đáp ứng nhu cầu nhận dạng phông chữ của cả con người và hệ thống định dạng ký tự đơn giản của máy tính thời kỳ đầu.

Chữ P là kết hợp các ký tự của phông Perpetua (1929). “Ở đây,” theo các nhà thiết kế của Johnson Banks, “phông chữ được biến thành một vòng chuỗi vô tận cấu từ các ký tự in hoa”.

 

  Chữ Q thể hiện phông Quadrate (2002), phông chữ mang sắc thái ba chiều ngay cả trong phiên bản 2D. Johnson Banks vì thế cố gắng hình dung và thể hiện nó thành một phiên bản ba chiều của Quadrate.

Chữ R sử dụng phông Retina (2002), phông chữ được đặt thiết kế cho tạp chí Wall Street để ứng dụng vào in ấn kích cỡ nhỏ.
Johnson Banks lý giải về thiết kế này như sau: “Ở cỡ lớn, Retina trông như thể có những “ngấn” thô được khoét lõm vào thân chữ, nhưng thật ra các ngấn đó được bố trí để bù trừ cho các đốm mực nhoè lúc in cỡ nhỏ.”

Chữ S được tạo thành từ phông Serita (1966), một phiên bản mô phỏng từ phông Univers. Nói về lịch sử phông chữ này, ký tự S có nét hao hao hình khối của chữ U trong Univers.

Chữ T thể hiện phông Trajan (1989), một phiên bản mô phỏng hiện đại của chữ in hoa La Mã được khắc trên cột Trajan ở Rome. Tượng đài lịch sử này có một hệ bậc thang xoắn ốc bên trong cho người trèo lên đỉnh. Mẫu chữ T của Johnson Banks lấy cảm hứng từ công trình đó.

  

Chữ U được cách điệu theo phông Univers (1957), một trong những phông chữ phổ biến nhất thế giới hiện nay.


Chữ V thể hiện phông Verdana (1996), phông chữ thiết kế cho ngành in màn và rất phổ biến trong phần mềm Windows thời kỳ đầu.

Chữ W ứng dụng phông Wilhelm Klingspor Gotisch, một phông chữ đen được mô phỏng theo những đường nét uốn lượn của thư pháp.

  

Chữ X thể hiện phông Xheighter (1999), một loại phông Sans Serif cao, nét dày. Hình dáng phông chữ này được nhấn mạnh trong kết cấu kiểu nhà chọc trời của thiết kế.

  

Chữ Y thể hiện phông DFP Yuan. Ngoài việc mang tên gọi của đơn vị tiền tệ quốc gia, Yuan trong tiếng Hoa còn có nghĩa vật hình tròn hayđồng xu tròn. Biểu tượng ¥ phân cắt ở đây “tạo thành một vòng tròn vô tận của đồng tiền Trung Quốc.”

  

Chữ Z thể hiện phông chữ Zig Zag mang phong cách art deco, với hình dạng chữ chi lồng vào nhau rối rắm.